118. Bàn về đại diện trong giao dịch của doanh nghiệp theo Bộ luật Dân dự năm 2015

TS. Bùi Đức Giang

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng, số 4/2017, ngày 17/4/2017

Trong thực tế xét xử ở nước ta thời gian qua, rất nhiều hợp đồng, trong đó có các hợp đồng giao dịch bảo đảm bị Tòa án tuyên vô hiệu, vì lý do người đại diện cho doanh nghiệp để xác lập hợp đồng không có thẩm quyền, hay vượt quá thẩm quyền đại diện. Các văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp trong thời gian vừa qua cũng có một số thay đổi về quy định đại diện. Bộ luật dân sự mới ngày 24 tháng 11 năm 2015 (Bộ luật dân sự 2015) có nhiều quy định mới về đại diện trong đó có một số thay đổi sẽ tác động trực tiếp đến việc đại diện cho doanh nghiệp trong các giao dịch thương mại và tài chính.

1. Một số điểm mới

Khoản 1, điều 134, Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa về quan hệ đại diện: “là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”. Như vậy Bộ luật dân sự 2015 đã chính thức cho phép một pháp nhân (chẳng hạn một công ty), có thể ủy quyền cho một pháp nhân khác xác lập và, hoặc thực hiện giao dịch cho mình. Điều này được kỳ vọng sẽ “gỡ nút thắt” cho nhiều giao dịch trong thực tế, nhất là khi việc một pháp nhân nhận ủy quyền của một pháp nhân khác (dù được một số pháp luật chuyên ngành thừa nhận)1, gây khá nhiều tranh cãi trong thời gian qua. Bởi vì đa số các ý kiến đều cho rằng, Bộ luật dân sự 2005 không cho phép thực hiện việc ủy quyền này.

Hơn nữa, điều 140, Bộ luật dân sự 2015 cũng đưa ra một số nguyên tắc, giúp xác định thời hạn đại diện trong trường hợp văn bản ủy quyền không nêu thời hạn đại diện. Theo đó: (i) nếu quyền đại diện được xác định theo giao dịch dân sự cụ thể, thì thời hạn đại diện được tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự đó; (ii) nếu quyền đại diện không được xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện là 1 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện2. Trường hợp (ii) đã được quy định trong Bộ luật dân sự 20053, trong khi trường hợp (i) là một quy định mới. Tinh thần của quy định này là, nếu đại diện được xác lập để thực hiện một nhiệm vụ nhất định thì việc đại diện sẽ chấm dứt khi nhiệm vụ này được hoàn thành. Ví dụ khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ủy quyền cho một người khác, ký hợp đồng thế chấp với ngân hàng, thì việc ủy quyền này chấm dứt khi hoàn thành việc ký hợp đồng thế chấp. Điều này phù hợp với nguyên tắc chung là đại diện theo ủy quyền sẽ mặc nhiên chấm dứt, khi công việc được ủy quyền đã hoàn thành (điểm c, khoản 3, điều 140, Bộ luật dân sự 2015).

Tuy vậy, liên quan tới việc ký kết giao dịch, khoản 3, điều 141, Bộ luật dân sự 2015 vẫn giữ cách tiếp cận của Bộ luật dân sự cũ khi quy định một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân, hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình, hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Quy định cấm này dẫn tới việc, khi một người là đại diện theo pháp luật của nhiều công ty khác nhau và các công ty này tham gia ký kết một hợp đồng, thì theo cách làm phổ biến là người đại diện theo pháp luật này ủy quyền cho một người khác ký kết hợp đồng, chứ không cùng một lúc ký hơn một chữ ký trên hợp đồng. Cách làm này về bản chất cũng khá khiên cưỡng và không giải quyết triệt để vấn đề. Thiết nghĩ, do Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 (Luật doanh nghiệp) đã bỏ quy định cấm giám đốc (thường là người đại diện theo pháp luật) của công ty cổ phần không được đồng thời làm giám đốc của doanh nghiệp khác, nên sẽ là phù hợp hơn nếu Bộ luật dân sự 2015, mở ra một ngoại lệ trong quan hệ đại diện trong doanh nghiệp.

2. Đại diện mặc định cho doanh nghiệp?

Khoản 2, điều 13, Luật doanh nghiệp, mở ra khả năng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phẩn được có nhiều người đại diện theo pháp luật, với điều kiện điều lệ công ty phải quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật đó4. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp không đề cập trực tiếp vấn đề bảo vệ người thứ ba trong các giao dịch, do một trong số những người đại diện theo pháp luật này xác lập, khi người này không có thẩm quyền xác lập các giao dịch đó.

Điều 137 của Bộ luật dân sự 2015 khẳng định lại nguyên tắc nêu trên của Luật doanh nghiệp, theo đó một công ty có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều 141 của văn bản này cũng quy định: (i) phạm vi đại diện của từng người đại diện theo pháp luật được nêu trong điều lệ của công ty5 và nếu không xác định được cụ thể phạm vi đại diện trên cơ sở xem xét điều lệ, thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; và (ii) người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình.

Vấn đề ở đây là không phải lúc nào người đại diện cũng hành động đúng với phạm vi đại diện của mình, hay thông báo trung thực cho bên đối tác về phạm vi đại diện của mình, trong khi Bộ luật dân sự 2015 không đưa ra chế tài về việc vi phạm nghĩa vụ thông báo này. Cho nên, muốn biết được người đại diện theo pháp luật của bên kia, giao dịch ký hợp đồng với mình thực sự có thẩm quyền đại diện hay không, thì phải kiểm tra điều lệ của công ty đối tác. Tuy nhiên, thực tế cho thấy: (i) không dễ có được điều lệ cập nhật của một công ty, và (ii) bên muốn giao dịch bị tuyên vô hiệu có thể tìm cách thay đổi thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật trong điều lệ.

Hơn nữa, trong thực tế cũng rất hiếm gặp trường hợp điều lệ của công ty không quy định cụ thể về phạm vi đại diện của từng người đại diện theo pháp luật, bởi vì trong trường hợp này thông thường cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ từ chối đăng ký nội dung người đại diện theo pháp luật cho công ty. Nói cách khác, có vẻ như giải pháp mặc định của Bộ luật dân sự 2015 trong tình huống này không thực sự có ý nghĩa. Do đó, xét một cách tổng thể, cách tiếp cận của Bộ luật dân sự 2015 còn khá dè dặt và chưa thực sự bảo vệ các bên thứ ba ngay tình. Cần lưu ý, theo quy định tại điều 142, Bộ luật dân sự 2015, giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ khi: (i) người được đại diện đã công nhận giao dịch, hoặc (ii) người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý; hoặc (iii) người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết, hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện. Muốn cứu vãn được giao dịch do một người đại diện theo pháp luật không có thẩm quyền xác lập, bên đối tác của doanh nghiệp phải chứng minh được sự tồn tại của một trong các hành vi của doanh nghiệp này nêu trên và việc này không hề dễ dàng trong thực tế!

3. Hình thức ủy quyền

Các quy định có liên quan trong Bộ luật dân sự 2015, không đặt ra các yêu cầu đặc biệt nào về mặt hình thức đối với việc ủy quyền, ngoại trừ trường hợp việc ủy quyền được thể hiện thông qua một hợp đồng ủy quyền thì khi ủy quyền lại, hình thức hợp đồng ủy quyền lại phải phù hợp với hình thức ủy quyền ban đầu6 (điều 564). Như vậy, về nguyên tắc việc ủy quyền: (i) có thể được thể hiện dưới dạng lời nói hoặc văn bản (hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền, thư ủy quyền, văn bản ủy quyền, công văn ủy quyền, quyết định ủy quyền…); và (ii) chỉ phải tuân thủ các điều kiện về mặt hình thức trong các văn bản pháp luật chuyên ngành nếu có7.

Xu hướng phát triển của pháp luật hiện nay là đơn giản hóa các điều kiện về mặt hình thức của việc ủy quyền. Chẳng hạn, Luật nhà ở mới nêu rõ việc ủy quyền quản lý nhà ở không bắt buộc phải công chứng (khoản 2, điều 122). Trong thực tế, các bên có thể lựa chọn công chứng văn bản ủy quyền, để tạo tính trang trọng cho văn bản ủy quyền, cũng như bảo đảm tính xác thực của ngày tháng, ghi trên văn bản này và giá trị chứng cứ trong tố tụng.

Một vấn đề đặt ra là, nếu văn bản ủy quyền không phải là hợp đồng ủy quyền, thì trên văn bản ủy quyền có nhất thiết phải có phần thể hiện việc bên được ủy quyền chấp thuận việc ủy quyền hay không? Bộ luật dân sự 2015 không đề cập trực tiếp vấn đề này, song có thể tìm câu trả lời từ một số quy định có liên quan của văn bản này. Thực vậy, điều 135 nêu nguyên tắc chung là “quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện”. Điểm a và điểm d, khoản 3, điều 140 quy định đại diện theo ủy quyền có thể chấm dứt “theo thỏa thuận” (được hiểu là giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền), hoặc khi người đại điện (bên được ủy quyền) “đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền”. Từ các quy định này dường như hàm ý rằng, việc ủy quyền chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm có sự chấp thuận của cả bên ủy quyền lẫn bên được ủy quyền. Sự chấp thuận của bên được ủy quyền có thể được thể hiện trên văn bản ủy quyền (thường kèm theo chữ ký của bên được ủy quyền), hoặc một cách hàm ý thông qua việc bên được ủy quyền xác lập, hay thực hiện giao dịch nhân danh bên ủy quyền, theo đúng phạm vi ủy quyền được nêu trong văn bản ủy quyền. Tất nhiên, việc ủy quyền sẽ không có hiệu lực trong trường hợp bên được ủy quyền từ chối việc ủy quyền.

4. Ủy quyền lại

Theo quy định tại điều 564, Bộ luật dân sự 2015, bên được ủy quyền được ủy quyền lại cho người khác trong trường hợp: (i) có sự đồng ý của bên ủy quyền, hoặc (ii) do sự kiện bất khả kháng nếu không áp dụng ủy quyền lại thì mục đích xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của người ủy quyền không thể thực hiện được, với điều kiện việc ủy quyền lại không được vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu và hình thức hợp đồng ủy quyền lại phải phù hợp với hình thức ủy quyền ban đầu.

Điều 564 nằm trong phần quy định về hợp đồng ủy quyền, chứ không thuộc phần quy định về đại diện của Bộ luật dân sự 2015. Điều luật này cũng quy chiếu rõ ràng đến “hợp đồng ủy quyền lại”. Điều này hàm ý rằng, việc ủy quyền lại chỉ phát sinh trong quan hệ ủy quyền thông qua hợp đồng, chứ không thể ủy quyền lại, nếu việc ủy quyền trước đó thể hiện dưới dạng văn bản ủy quyền khác.

Một vấn đề đặt ra là liệu bên được ủy quyền lại có được ủy quyền tiếp lại cho một người khác hay không? Nếu như Bộ luật dân sự 2005 dùng thuật ngữ “ủy quyền lại cho người thứ ba” (điều 583), thì đến Bộ luật dân sự 2015, thuật ngữ “ủy quyền lại cho người khác” đã được sử dụng thay thế. Việc thay đổi thuật ngữ này có thể dẫn tới cách hiểu là, nhà làm luật cho phép ủy quyền lại nhiều cấp, miễn là thỏa mãn các điều kiện nêu ở trên. Tuy vậy, cách hiểu này có vẻ chưa thực sự hợp lý, bởi vì điều 564 chỉ cho phép bên được ủy quyền (chứ không phải là bên được ủy quyền lại), được phép ủy quyền lại. Hơn nữa, khi ủy quyền lại nhiều cấp, phạm vi ủy quyền có thể thay đổi đáng kể, dẫn tới rủi ro là việc ủy quyền lại sẽ có thể không có giá trị pháp lý.

Một điều đáng tiếc là Bộ luật dân sự 2015 không đề cập đến hệ quả pháp lý của việc ủy quyền lại. Về nguyên tắc, do không có mối quan hệ hợp đồng trực tiếp giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền lại, cho nên bên được ủy quyền lại chỉ phải chịu trách nhiệm trước bên ủy quyền lại, ngay cả trong trường hợp bên được ủy quyền lại được phép xác lập hợp đồng ràng buộc bên ủy quyền. Như vậy, về nguyên tắc, bên ủy quyền không thể yêu cầu bên được ủy quyền lại giao lại tài sản, hay lợi ích thu được từ việc thực hiện ủy quyền lại cho mình. Bên được ủy quyền khi ủy quyền lại phải chịu trách nhiệm về các hành vi và vi phạm của bên được ủy quyền lại. Tương tự, việc chấm dứt ủy quyền ban đầu cũng sẽ kéo theo việc chấm dứt ủy quyền lại8.

Từ các phân tích trên có thể thấy, Bộ luật dân sự 2015 có khá nhiều bước tiến so với Bộ luật dân sự 2005. Tuy vậy, vẫn còn khá nhiều khoảng trống hay hạn chế trong các quy định mới. Đặc biệt, khi đại diện là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự và có thể sẽ có nhiều tranh chấp phát sinh trong thực tế liên quan đến chế định này.


1. Chẳng hạn khi doanh nghiệp thế chấp ủy quyền cho ngân hàng bán tài sản thế chấp.

2. Tương tự, theo quy định tại điều 563, Bộ luật dân sự 2015, nếu hợp đồng hay quy định pháp luật không quy định thời hạn ủy quyền, thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực 1 năm kể từ ngày xác lập việc ủy quyền.

3. Chẳng hạn điều 582, Bộ luật dân sự 2005.

4. Xem thêm Bùi Đức Giang, “Hành lang pháp lý mới về người đại diện theo pháp luật, theo Luật doanh nghiệp 2014”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6 (326), tháng 6 năm 2015, trang 18-22.

5. Trong thực tế, việc phân chia thẩm quyền ký hợp đồng giữa những người đại diện theo pháp luật của công ty có thể dựa trên tính chất, giá trị của hợp đồng, lĩnh vực kinh doanh, khu vực địa lý…

6. Như vậy, nếu hợp đồng ủy quyền ban đầu được công chứng thì hợp đồng ủy quyền lại cũng phải được công chứng.

7. Chẳng hạn, trong trường hợp ủy quyền quản lý nhà ở, các bên phải lập hợp đồng ủy quyền (khoản 2, điều 155, Luật nhà ở).

8. Đây cũng là cách tiếp cận của một số nền pháp luật tiên tiến như pháp luật Anh, xem thêm Chitty on Contracts, 32nded, Sweet & Maxwell, 2015, para. 31-042.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s